Vay trả góp: dư nợ giảm dần, gốc đều và lãi phẳng khác nhau ra sao

Khi vay trả góp, cách tính lãi quan trọng không kém con số lãi suất. Với dư nợ giảm dần, bạn chỉ trả lãi trên số tiền còn nợ; với lãi phẳng, lãi luôn tính trên số tiền vay ban đầu dù bạn đã trả bớt. Cùng ghi 10%/năm, hai cách có thể chênh nhau hơn 100 triệu đồng tiền lãi cho một khoản vay 500 triệu đồng. Phần dưới đây so sánh bằng số cụ thể để bạn đọc đúng hợp đồng trước khi ký.
Tóm tắt nhanh
- Dư nợ giảm dần: lãi mỗi kỳ = Dư nợ còn lại × Lãi suất năm ÷ 12. Trả bớt gốc thì lãi kỳ sau giảm.
- Có hai kiểu dư nợ giảm dần: gốc đều (gốc cố định, tổng trả giảm dần) và trả đều (tổng trả mỗi tháng bằng nhau). Lãi phẳng (flat) tính trên số vay ban đầu.
- Vay 500 triệu đồng, 10%/năm, 60 tháng: tổng lãi gốc đều ≈ 127,08 triệu; trả đều ≈ 137,41 triệu; lãi phẳng 250 triệu.
- Lãi phẳng 10%/năm trong 5 năm tương đương khoảng 17,3%/năm tính theo dư nợ giảm dần.
- Lập lịch trả nợ cho khoản vay của bạn bằng công cụ tính khoản vay và lịch trả nợ.
Dư nợ giảm dần là gì?
Dư nợ là số tiền gốc bạn còn nợ tại một thời điểm. Mỗi kỳ trả nợ, một phần tiền trả đi vào gốc nên dư nợ giảm dần. Khi lãi được tính trên dư nợ thực tế còn lại, phần lãi cũng giảm theo. Đây là cách tính phổ biến ở các khoản vay mua nhà, mua xe và vay kinh doanh tại ngân hàng.
Theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN, tổ chức tín dụng tính lãi theo số dư thực tế, số ngày duy trì số dư và lãi suất năm, với quy ước một năm 365 ngày. Vì vậy lịch trả nợ của ngân hàng có thể chênh vài nghìn đồng giữa tháng 30 ngày và tháng 31 ngày; bảng tính theo tháng bên dưới là ước tính gần đúng.
Ba cách tính lãi trả góp phổ biến
| Phương thức | Lãi mỗi kỳ tính trên | Tiền trả mỗi kỳ |
|---|---|---|
| Gốc đều, lãi giảm dần | Dư nợ còn lại | Giảm dần: kỳ đầu cao nhất |
| Trả đều (niên kim) | Dư nợ còn lại | Bằng nhau mọi kỳ; phần gốc tăng, phần lãi giảm |
| Lãi phẳng (flat) | Số tiền vay ban đầu | Bằng nhau mọi kỳ |
Công thức từng phương thức
- Gốc đều: gốc mỗi kỳ = Số tiền vay ÷ Số kỳ; lãi kỳ k = Dư nợ đầu kỳ k × lãi suất năm ÷ 12.
- Trả đều: Khoản trả = P × i × (1 + i)^N ÷ ((1 + i)^N − 1), với i là lãi suất mỗi kỳ, N là số kỳ.
- Lãi phẳng: lãi mỗi kỳ = Số tiền vay × lãi suất năm ÷ 12; tổng lãi = Số tiền vay × lãi suất năm × số năm.
So sánh dư nợ giảm dần và lãi phẳng qua khoản vay 500 triệu đồng
Giả định vay 500.000.000 đ, lãi suất 10%/năm cố định, trả hằng tháng trong 60 tháng:
| Chỉ tiêu | Gốc đều | Trả đều | Lãi phẳng |
|---|---|---|---|
| Trả kỳ đầu | 12.500.000 đ | 10.623.522 đ | 12.500.000 đ |
| Trả kỳ cuối | ≈ 8,40 triệu | ≈ 10,62 triệu | 12.500.000 đ |
| Tổng tiền lãi | ≈ 127,08 triệu | ≈ 137,41 triệu | 250 triệu |
| Tổng phải trả | ≈ 627,08 triệu | ≈ 637,41 triệu | 750 triệu |
Ba kỳ đầu của phương thức gốc đều cho thấy rõ lãi giảm theo dư nợ: kỳ 1 trả 8.333.333 đ gốc và 4.166.667 đ lãi; kỳ 2 lãi còn 4.097.222 đ; kỳ 3 còn 4.027.778 đ. Với trả đều, kỳ 1 có 6.456.855 đ gốc và 4.166.667 đ lãi, đến kỳ 2 phần gốc tăng lên 6.510.662 đ.
Điều đáng chú ý: kỳ đầu của gốc đều và lãi phẳng bằng nhau, đều 12,5 triệu đồng. Nhưng từ kỳ thứ hai, gốc đều giảm dần còn lãi phẳng giữ nguyên, nên tổng lãi chênh gần gấp đôi.
Vì sao lãi phẳng nghe rẻ mà thực tế đắt?
Với lãi phẳng, đến tháng thứ 59 bạn chỉ còn nợ khoảng 16,7 triệu đồng gốc nhưng vẫn trả lãi như đang nợ 500 triệu. Quy đổi về cùng thước đo lãi suất trên dư nợ giảm dần (lãi suất làm giá trị hiện tại các khoản trả bằng số tiền nhận vay), lãi phẳng 10%/năm trong 5 năm tương đương khoảng 17,3%/năm.
Khoản vay ngắn càng chênh nhiều. Ví dụ vay tiêu dùng 30 triệu đồng, lãi phẳng 18%/năm trong 12 tháng, mỗi tháng trả 2.950.000 đ. Quy đổi theo dư nợ giảm dần, lãi suất thực khoảng 31,7%/năm. Vì thế khi được chào lãi suất, hãy hỏi lại: "lãi này tính trên dư nợ ban đầu hay dư nợ còn lại?".
Ngoài lãi, chi phí vay còn gồm phí hồ sơ, phí trả nợ trước hạn, bảo hiểm khoản vay (nếu có). Hãy đưa tất cả vào khi so sánh các lời chào vay.
Nên chọn gốc đều hay trả đều?
- Gốc đều rẻ hơn về tổng lãi (ở ví dụ ít hơn khoảng 10,33 triệu đồng) vì dư nợ giảm nhanh hơn. Đổi lại, những kỳ đầu nặng nhất: 12,5 triệu so với 10,62 triệu. Hợp với người có thu nhập ổn định và dư dả ngay từ đầu.
- Trả đều giữ số tiền mỗi tháng không đổi nên dễ lập ngân sách gia đình hoặc dòng tiền cửa hàng. Hợp khi thu nhập hiện tại vừa đủ và dự kiến tăng dần.
- Dù chọn kiểu nào, hãy kiểm tra khả năng trả với kỳ cao nhất và với kịch bản lãi suất tăng.
Những yếu tố làm khoản trả thực tế khác bảng tính
Lãi ưu đãi rồi thả nổi. Nhiều khoản vay mua nhà cố định lãi trong 1–3 năm đầu, sau đó điều chỉnh theo lãi suất cơ sở cộng biên độ ghi trong hợp đồng. Với ví dụ trả đều, nếu sau 24 tháng lãi tăng từ 10% lên 12%/năm, khoản trả hằng tháng tăng từ 10.623.522 đ lên khoảng 10.935.350 đ và tổng lãi tăng lên khoảng 148,64 triệu đồng.
Trả trước một phần. Cũng ví dụ trên, nếu cuối tháng 24 bạn trả thêm 100 triệu đồng và giữ nguyên khoản trả hằng tháng, khoản vay kết thúc sớm 12 tháng, tổng lãi giảm khoảng 28,68 triệu đồng (chưa trừ phí trả nợ trước hạn theo hợp đồng).
Ân hạn gốc. Trong thời gian ân hạn bạn chỉ trả lãi, hoặc lãi được cộng dồn vào dư nợ. Khoản trả sau ân hạn vì thế cao hơn.
Mô phỏng khoản vay bằng công cụ Softonline
Tiện ích tính khoản vay chạy trên trình duyệt, không lưu hay gửi thông tin khoản vay của bạn đi đâu:
- Chọn phương thức Trả đều mỗi kỳ, Gốc đều, lãi giảm dần hoặc Lãi trên dư nợ ban đầu (flat).
- Nhập Số tiền vay (đ) (gõ được 500tr hoặc 1 tỷ), Lãi suất năm (%), Kỳ trả, Kỳ hạn vay và Ngày giải ngân.
- Nếu hợp đồng có, mở các mục Ân hạn gốc, Phí do bạn tự khai báo, Trả thêm (trả trước một phần) và Lãi suất thay đổi theo kỳ.
- Bấm Tính lịch trả nợ để xem khoản trả kỳ đầu, tổng lãi, ngày tất toán, chi phí vay hiệu dụng ước tính và lịch trả nợ từng kỳ; bấm qua lại giữa các phương thức để so sánh.
- Bấm Tải CSV hoặc In kết quả để mang đi đối chiếu với bảng của bên cho vay.
Công cụ tính lãi mỗi kỳ bằng dư nợ × lãi suất năm ÷ 12, không theo số ngày thực tế, và chế độ flat không mô phỏng trả trước. Nếu bạn đang cân nhắc tích lũy thay vì vay, hãy thử thêm công cụ tính lãi kép để so sánh.
Lỗi thường gặp khi so sánh khoản vay
- So lãi phẳng với lãi dư nợ giảm dần như cùng một loại: phải quy đổi trước khi so.
- Chỉ nhìn khoản trả tháng: kéo dài kỳ hạn làm khoản trả nhẹ hơn nhưng tổng lãi tăng.
- Quên giai đoạn sau ưu đãi: hãy tính thử lãi suất thả nổi cao hơn 2–3 điểm phần trăm.
- Bỏ qua phí trả trước hạn: phí này có thể làm khoản tiết kiệm lãi nhỏ đi đáng kể.
Câu hỏi thường gặp
Vay theo dư nợ giảm dần có phải luôn là gốc đều không?
Không. Cả gốc đều và trả đều đều tính lãi trên dư nợ còn lại. Khác nhau ở chỗ gốc được trả theo phần cố định hay theo khoản trả bằng nhau.
Lãi suất 0,8%/tháng tương đương bao nhiêu %/năm?
Nếu tính trên dư nợ giảm dần, 0,8%/tháng tương ứng lãi suất danh nghĩa 9,6%/năm. Nếu 0,8%/tháng là lãi phẳng trên số vay ban đầu thì chi phí thực cao hơn nhiều.
Trả trước hạn nên giảm kỳ hạn hay giảm tiền trả mỗi tháng?
Giữ khoản trả và rút ngắn kỳ hạn thường tiết kiệm lãi nhiều hơn; giảm khoản trả giúp nhẹ dòng tiền hằng tháng. Hãy mô phỏng cả hai trước khi quyết định.
Vì sao lịch trả nợ của ngân hàng lệch vài nghìn đồng so với bảng tính?
Ngân hàng tính lãi theo số ngày thực tế trong từng kỳ và làm tròn theo quy định nội bộ, nên tháng 31 ngày có lãi cao hơn tháng 28 ngày một chút.






